Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe Nam Giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe Nam Giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Nếu bạn không thích hút thuốc lá? Chúc mừng bạn, bạn là một người coi trọng sức khỏe! Còn nếu bạn đang tập hút thuốc thì bạn thật mạo hiểm! Còn nếu bạn bỏ được thuốc lá thì bạn thực sự trở thành một anh hùng!!! Vì sao lại như vậy? Mời các bạn tìm hiểu sự thật của những chất siêu độc trong thuốc lá nhé!

Cùng tìm hiểu quá trình xâm nhập của thuốc lá và cách phản ứng, chống cự lại điếu thuốc ấy của cơ thể người…

Ai cũng biết thuốc lá là một trong những sản phẩm độc hại và vô cùng nguy hiểm. Với 5 phút để hút một điếu thuốc, bạn vô tình đã đưa vào cơ thể gần 4.000 hợp chất khác nhau, trong đó có những chất gây nên ung thư.
 
Cách đây không lâu, một cuộc điều tra với nhãn hiệu thuốc lá nổi tiếng đã phát hiện ra rằng, thuốc lá của hãng này chứa hàm lượng TSNAs (Tobacco-specific nitrosamines) - một chất thúc đẩy quá trình phát triển của tế bào ung thư cao gấp ít nhất 2 lần các loại thuốc lá thường.
 
Sự kiện này càng làm gia tăng lo ngại của cộng đồng về tác hại nghiêm trọng mà thuốc lá gây ra cho sức khỏe. Vậy cụ thể, quá trình gây hại ấy ra sao, cơ thể chúng ta “xử lý” một điếu thuốc lá như thế nào, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
 
1. Từ những “thành phần xã hội đen” trong thuốc lá…
 
Trong thuốc lá có khoảng trên dưới 4.000 hợp chất khác nhau. Bên cạnh chất gây nghiện chính là nicotine, có khoảng ít nhất 10 chất được xếp vào diện “xã hội đen” - chất cực độc ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của con người.
 
Chất đầu tiên phải kể tới là Amoniac - thành phần quan trọng của phân bón, được sử dụng làm sạch nhà vệ sinh, xử lý nước thải. Trong thuốc lá, Amoniac đóng vai trò làm gia tăng tỷ lệ hấp thụ Nicotine của cơ thể người.

Chưa hết, Asen - một chất có trong thuốc trừ sâu trên cây thuốc lá vẫn còn sót lại chút tàn dư trong mọi điếu thuốc. Để gia tăng tốc độ của Nicotine đi tới não và giữ cho thuốc lá không bị khô, các nhà sản xuất còn thêm vào Propylene Glycol.
 
Ngoài ra, người ta còn tìm thấy thành phần của một số kim loại nặng có độc như Cadmium - có trong pin điện hóa, Nickel hay một số sản phẩm phụ từ quá trình đốt thuốc như Benzen (có trong xăng), Formaldehyde - chất dùng để ướp xác, Acetone, Butane…
 
2. … tới quá trình xâm nhập của thuốc lá vào cơ thể
 
Các nhà khoa học phát hiện, thời gian trung bình để hút một điếu thuốc là khoảng 5 phút. Trong vòng 10 giây đầu tiên khi hút thuốc, khói thuốc đi vào khoang miệng, bao phủ một lớp màng nâu lên hàm răng bạn. Những chất khí sinh ra như Formaldehyde và Amoniac ngay lập tức gây báo động trên hệ miễn dịch của cơ thể.
 
Ngay từ hơi thuốc đầu tiên, cơ thể bạn đã được đặt trong sự báo động.
 
Khói thuốc xuống tới khi quản, làm giảm hoạt động của các lông mao - vốn có nhiệm vụ quét dọn bụi bẩn hay vi khuẩn xâm nhập. Trong lúc đó, Nicotine thâm nhập vào máu thông qua các mao mạch trong phổi. Chất này nhanh chóng kích thích tuyến thượng thận, làm cơ thể tiết ra hormone adrenaline, hệ quả là gây tăng huyết áp và nhịp tim.
 
Hàm răng mờ xỉn vì được khói thuốc lá "bao bọc, chở che".
 
Nicotine tiếp tục xâm nhập trung ương thần kinh, giải phóng tiếp dopamine trong cơ thể, khiến người hút cảm thấy phấn chấn hơn. Tuy nhiên, cùng lúc ấy, Carbon monoxide trong khói thuốc tích tụ dần trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của cơ thể tới cơ quan quan trọng.
 
Thuốc lá dễ dàng bắt trái tim của bạn phải hoạt động nhanh hơn, nhiều hơn.
 
Quá trình trên diễn ra lặp đi lặp lại theo từng hơi thuốc. Sau khi hút xong điếu thuốc, lượng dopamine trong não trở về mức bình thường, khiến bạn ngay lập tức có cảm giác thèm thuốc lá một cách tự nhiên. Do đó nếu lặp đi lặp lại việc hút thuốc, bạn sẽ trở thành con nghiện thuốc lá lúc nào không hay.
 
3. … và cách cơ thể người chiến đấu chống thuốc lá
 
Rõ ràng, thuốc lá xâm nhập quá nhanh và tác động nguy hiểm gần như ngay lập tức. Liệu cơ thể chúng ta có cơ chế nào đề phòng một cách tự nhiên không? Thực tế, các nhà khoa học đã kết luận là có.
 
Song phải mất tới 8 giờ đồng hồ sau khi hút một điếu thuốc, cơ thể con người mới, đào thải hoàn toàn các chất độc xâm nhập cơ thể. Đồng thời, sự phản kháng ấy nhìn chung vô cùng yếu ớt.
Vài giây sau khi bạn hút hơi thuốc đầu tiên, mắt, mũi đều có những phản ứng kích thích như chảy nước. Các lông mao trong khí quản tỏ ra quá yếu ớt và chúng bị giết chết bởi khói thuốc. Hệ quả là cơ thể phản ứng bằng cách ho khan, nhắc nhở bạn rằng, các lông mao đang gặp nguy hiểm.
 
Khói thuốc lá giết chết các lông mao ở khí quản chỉ trong tích tắc.
 
Thế nhưng, nếu tiếp tục hút tới điếu thứ hai, thứ ba, số lượng lông mao còn sống sót ít dần và hết hẳn. Khi đó, bạn sẽ không thấy ho nữa. Đó cũng là lý do vì sao người hút thuốc thời gian đầu không cảm nhận được những nguy hại của thói quen xấu này.

Khi những cơn ho không còn xuất hiện, hãy cẩn thận tới sức khỏe của bản thân!
 
Sâu bên trong cơ thể, phổi gần như không có cách gì chống lại hắc ín có trong khói thuốc. Hắc ín bám vào các phế nang phổi và giết chết các tế bào phổi khỏe mạnh.

Trên thực tế, bất chấp các nhà sản xuất thuốc lá đã sử dụng bộ lọc làm giảm thiểu lượng hắc ín xâm nhập cơ thể, chỉ có 30% trong số chúng được thải ra ngoài không khí, phần còn lại tích tụ trong phổi, lưỡi, vòm họng… Theo thời gian, các giác quan cảm nhận mùi, vị đều có chút thay đổi song người nghiện thuốc không hề nhận ra - đó chính là cách cơ thể cảnh báo chúng ta.

 
Chưa hết, khi khói thuốc lá xâm nhập vào máu, Carbon monoxide làm giảm khả năng vận chuyển Oxy của máu tới các bộ phận quan trọng. Cơ thể con người phản ứng bằng cách tăng huyết áp, nhịp tim lên 10-25 nhịp mỗi phút.
 
Điều đó có nghĩa, nếu hút cả ngày, tim bạn phải đập thêm tới 36.000 nhịp so với thông thường. Ngoài ra, bề mặt da thiếu Oxy sẽ sạm màu và xuất hiện nhiều nếp nhăn. Song, tất cả những cảnh báo trên đều bị con nghiện thuốc lờ đi không biết.
 
Những vết chân chim ở đuôi mắt cũng là dấu hiệu khuyên bạn nên dừng hút thuốc.
 
Hậu quả của việc hút thuốc lá có lẽ không cần phải bàn cãi. Bạn có biết, 90% các ca ung thư trên thế giới có liên quan tới thuốc lá. Không sớm thì muộn, bạn sẽ chết trong đau đớn nếu hút thuốc lá. Bởi vậy, hãy dừng lại trước khi quá muộn.
Một số gợi ý cho việc cai thuốc lá:
1. Ấn định ngày bỏ thuốc lá trước một vài tuần, từ từ cắt giảm dần. Tránh đến những nơi mà bạn từng thích hút thuốc.
2. Vào ngày bạn muốn “cai” thuốc lá, giữ cho mình luôn bận rộn. Vứt bỏ hết các gói thuốc lá.
3. Mặc dù một số loại thay thế nicotine như kẹo cao su hoặc miếng dán có thể giúp bạn bỏ thuốc, nhưng bạn vẫn sẽ phải nỗ lực chống lại cơn thèm thuốc lá.
“Children of Parents who Smoke, Get to Heaven Earlier”, những đứa trẻ có cha mẹ hút thuốc sẽ phải lên thiên đường sớm hơn. Poster này có tác động mạnh mẽ đến bất kì người lớn nào sử dụng thuốc lá cho dù họ có con hay không. Môi trường bị ô nhiễm khói thuốc khiến trẻ dễ mắc các hội chứng đột tử, đau bụng, viêm tai giữa, làm nảy sinh các vấn đề về hô hấp, nhận thức, trí tuệ.
4. Đừng bao giờ tự cho phép mình hút, cho dù chỉ là một điếu.
5. Luôn dặn lòng không bao giờ bỏ cuộc và không bao giờ tìm đến thuốc lá. Hãy tìm những việc làm tích cực trong khi rảnh rỗi: đọc sách, nghe nhạc, làm từ thiện, chơi thể thao,....
6. Tìm kiếm sự giúp đỡ, chẳng hạn như một chương trình cai nghiện thuốc lá, nếu bạn thấy cần thiết.
(Theo VNAC/Health)

Vì thuốc lá có chất gây nghiện nicotine và hàng nghìn độc tố nguy hiểm khác, nên nếu bạn bỏ được thuốc lá thì bạn thực sự thông minh, bản lĩnh và là người anh hùng của gia đình và xã hội! Bạn vừa bảo vệ được sức khỏe của bản thân và gia đình, vừa bảo vệ được môi trường và vừa có thêm khoản tài chính đầu tư cho tương lai tươi sáng của con cái bạn!

Khỏe Mới Vui - Nếu Bạn Bỏ Được Thuốc Lá, Bạn Thực Sự Trở Thành Một Anh Hùng!
Uống rượu thường xuyên gây giảm trí nhớ, ung thư dạ dày, đau tim, tăng huyết áp, tiểu đường… Uống rượu bia nhiều thường xuyên sẽ phá hủy dần nội tạng của bạn.
*Tiến trình phá hủy 5 chức năng cơ thể của rượu
 
Theo Viện Quốc gia Mỹ về lạm dụng rượu và nghiện rượu, những ảnh hưởng ngay tức thì của rượu gồm tăng nồng độ cồn trong máu có thể xảy ra 10 phút sau ngụm rượu đầu tiên. Tuy nhiên, những tác động này là nhỏ so với tác động lâu dài rượu có thể gây ra cho cơ thể. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng rượu có thể dẫn tới nhiều loại ung thư, gồm: miệng, thực quản, họng, gan và vú. Nó có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng tới hầu hết cơ quan chính của cơ thể.

1. Tim

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chất chống oxy hóa được tìm thấy trong một ly rượu vang đỏ có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, nhưng điều gì xảy ra khi một cốc trở thành một chai. Theo thời gian, sử dụng quá nhiều rượu sẽ làm yếu cơ tim, kết quả là dẫn đến bất thường lưu thông máu.

Những người nghiện rượu và những người uống rượu bừa bãi thường bị một chứng bệnh gọi là bệnh cơ tim. Những người được chẩn đoán bị bệnh cơ tim do rượu có khả năng bị khó thở, rối loạn nhịp tim (nhịp tim không đều), mệt mỏi, gan to và ho kéo dài. Rượu có thể cũng làm gia tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ và cao huyết áp.

2. Não
Ngoại trừ cảm giác hưng phấn ban đầu, rượu có thể có hại cho não. Bằng việc làm chậm sự tiếp nhận thông tin giữa các dẫn truyền thần kinh, ethanol trong các đồ uống có cồn cũng có thể gây tổn thương nhiều khu vực của não. Tổn thương kéo dài tới các dẫn truyền thần kinh của não có thể gây ra những thay đổi hành vi và tâm trạng như trầm cảm, lo âu, suy giảm trí nhớ và co giật.

Nghiện rượu kết hợp với dinh dưỡng kém cũng có thể gây ra hội chứng Wernicke-Korsakoff “não ướt”. Những người nghiện rượu với hội chứng não ướt bị một dạng trầm cảm được đặc trưng bởi mất trí nhớ, lú lẫn, ảo giác, mất khả năng phối hợp cơ và không có khả năng hình thành những ký ức mới.

Cồn là chất có tác động rất lớn đến bộ não, ngay cả khi chỉ cần uống một lượng với nồng độ khoảng 0,25%o trong máu, tương đương với 0,3 lít bia hoặc 100ml rượu vang. Cồn gây tác động rất lớn đến hệ thống thần kinh mà đặc biệt là lên não, chúng làm cho góc nhìn bị thu hẹp lại và thời gian phản ứng chậm đi. Do vậy, người uống rượu, bia bị hạn chế rất lớn trong việc điều khiển các loại phương tiện giao thông và rất dễ dẫn đến tai nạn giao thông.

Nghiên cứu về tác hại của rượu của một số tác giả cho kết quả là nếu uống 50g cồn hằng ngày sẽ để lại tác hại vĩnh viễn, với khoảng 100.000 tế bào não sẽ bị giết chết khi uống một ly bia. Trong một cơn say rượu, con số tế bào não chết đi có thể lên đến 10.000.000.

Bên cạnh đó, đồ uống có cồn cũng ảnh hưởng đến khả năng tình dục và có con. Mặt khác, cồn là chất có tác dụng độc hại đến tinh hoàn và tinh trùng cho nên nếu nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả năng sảy thai ở người vợ mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra. Nếu người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết tật về trí tuệ.
3. Gan
Gan có vai trò tiêu hóa thức ăn, hấp thu dinh dưỡng, kiểm soát nhiễm trùng và đào thải độc tố khỏi cơ thể. Có tới 2 triệu người Mỹ bị các bệnh về gan do sử dụng rượu quá mức. Xơ gan xếp hàng thứ 12 trong các nguyên nhân gây tử vong ở Mỹ năm 2009. Trong số hơn 31 nghìn người tử vong được báo cáo trong năm này, 48,2% được cho là có liên quan đến rượu. Cứ 3 người phải ghép gan ở Mỹ thì một là hậu quả của bệnh gan do sử dụng rượu.

4. Tụy
Giống như não, sử dụng nhiều rượu có thể làm tụy bị rối loạn gây ra sự bài tiết các enzyme bên trong thay vì gửi chúng đến ruột non. Sự tích tụ của các enzyme trong tuyến tụy cuối cùng sẽ gây ra tình trạng viêm tuyến tụy, vốn có thể xuất hiện đột ngột (viêm tụy cấp) với các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, nôn, tăng nhịp tim, tiêu chảy và sốt, hoặc viêm tụy mạn sẽ phá hủy dần dần tuyến tụy, dẫn tới bệnh tiểu đường và thậm chí là tử vong.

5. Thận
Những ảnh hưởng rượu gây ra cho gan có thể cũng lan nhanh tới thận. Do tác dụng lợi tiểu, rượu đã làm tăng số lượng nước tiểu cơ thể thải ra khiến thận không thể thực hiện công việc điều tiết dịch cơ thể bao gồm phân phối natri, kẽm và các ion clorua. Điều này có thể làm mất cân bằng điện giải. Uống rượu quá nhiều có thể cũng dẫn tới tăng huyết áp, nguyên nhân thứ 2 gây suy thận.
6. Dạ dày, xương khớp, ....
* Tuổi thọ bị mất như thế nào do thuốc lá, rượu bia?
* Lạm dụng rượu không những gây hại cho cơ thể mà còn khiến bạn mắc những rối loạn về cảm xúc và chứng nghiện rượu.
 
Thậm chí chỉ với lượng nhỏ, rượu có thể có những tác động tiêu cực lên sức khỏe, chẳng hạn như:
- Làm chậm hoạt động của não, ảnh hưởng tới sự tỉnh táo, sự phối hợp và thời gian phản ứng
- Ảnh hưởng tới giấc ngủ và chức năng tình dục
- Đau đầu
- Tăng huyết áp
- Ợ nóng
Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bị tai nạn và đột quỵ. Theo thời gian, uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ:
- Bị bệnh gan, thận, phổi và bệnh tim
- Đột quỵ
- Loãng xương
- Tăng huyết áp
- Béo phì
Uống rượu quá mức cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư miệng, họng, thanh quản, thực quản, ung thư gan và ung thư vú. Khi kết hợp với hút thuốc lá, uống rượu quá mức làm tăng nguy cơ bị nhiều dạng ung thư khác.
Gây ra các bệnh về tâm thần
Rượu là một chất tác động tâm thần mạnh. Sử dụng rượu nhiều sẽ gây ra một số các bệnh lí rối loạn tâm thần.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rượu đóng một yếu tố lớn trong tái phát các bệnh lí tâm thần. Zenevitch năm 1974 thấy rằng có 14,3% bệnh nhân tâm thần phân liệt tái phát là do dùng rượu. Rượu làm hoang tưởng, ảo giác, kích động vận động nặng lên ở giai đoạn cấp của bệnh, mặc dù vẫn tuân thủ điều trị bằng thuốc... nó còn làm tăng lo âu, sầu uất, trầm cảm, làm gia tăng các ý tưởng tự sát hoặc xu hướng kích động tấn công.
* Vì vậy muốn sống vui khỏe, hạnh phúc và thành công bạn hãy biết uống rượu hợp lý và không bao giờ được vượt quá giới hạn cho phép! Đừng để rượu chi phối cuộc sống của bạn! Hãy để sự tỉnh táo, tự tin, trí tuệ và tâm đức của bạn đưa bạn đến thành công và hạnh phúc trọn vẹn!

Khỏe Mới Vui tổng hợp - Uống Rượu Bia Nhiều, Cuộc Đời Ngắn, Bệnh Tật Nhiều

 Đái tháo đường, còn gọi là Bệnh tiểu đường hay Bệnh dư đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước.

Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo: bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, v.v.

 1. Tình hình bệnh tiểu đường ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh tiểu đường là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ lệ mang bệnh tiểu đường ở lứa tuổi 30-64 là 2,7%, vùng đồng bằng, ven biển.
 
Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010, trên thế giới có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170%.

2. Phân loại bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: Bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin.
* Tiểu đường tuýp 1:
Khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân Bệnh tiểu đường thuộc loại 1, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (<20T). Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị. Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton.

 

Bệnh tiểu đường tuýp 1 ở trẻ nhỏ 

Những triệu chứng điển hình của Bệnh tiểu đường loại 1 là: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều (4 nhiều), mờ mắt, dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng. Lượng nước tiểu thường từ 3-4 lít hoặc hơn trong 24 giờ, nước trong, khi khô thường để lại vết bẩn hoặc mảng trắng. Tiểu dầm ban đêm do đa niệu có thể là dấu hiệu khởi phát của đái tháo đường ở trẻ nhỏ.
* Tiểu đường tuýp 2:
Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên.

  

Biến chứng hoại tử của tiểu đường

Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm trùng da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng do nhiễm nấm âm hộ; bệnh nhân nam bị liệt dương.

Triệu  chứng: thường gặp ở người mập, cũng có các triệu chứng tiểu nhiều, uống nhiều, mờ mắt, cảm giác kiến bò ở đầu ngón tay và chân... Tuy nhiên, với bệnh nhân đái tháo đường loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 7-10 năm (chỉ có cách kiểm tra đường máu cho phép chẩn đoán được ở giai đoạn này).
* Bệnh tiểu đường do thai nghén
Tỷ lệ bệnh tiểu đường trong thai kỳ chiếm 3-5% số thai nghén; phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ.

 

Tiểu đường thai kỳ 

3. Kết quả chuẩn đoán

Chẩn đoán đái tháo đường bằng định lượng đường máu huyết tương:
Đái tháo đường: đường máu lúc đói ≥ 126 mg/dl (≥ 7 mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp.
Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥ 200 mg/dl (≥ 11,1 mmol/l).
Người có mức đường máu lúc đói từ 5,6-6,9 mmol/l được gọi là những người có "rối loạn dung nạp đường khi đói". Những người này tuy chưa được xếp vào nhóm bệnh nhân ĐTĐ, nhưng cũng không được coi là "bình thường" vì theo thời gian, rất nhiều người người "rối loạn dung nạp đường khi đói" sẽ tiến triển thành ĐTĐ thực sự nếu không có lối sống tốt.

 

Tuyến tụy và hormon insulin 

Mặt khác, người ta cũng ghi nhận rằng những người có "rối loạn dung nạp đường khi đói" bị gia tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, đột quị hơn những người có mức đường máu < 5,5 mmol/l.

4. Nguyên nhân gây ra bệnh tiểu đường?

Hiện nay chưa rõ nguyên nhân chính xác gây ra bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, người ta ghi nhận có yếu tố di truyền hoặc gia đình (tức là khi gia đình có người bị tiểu đường thì những người còn lại có nguy cơ dễ bị bệnh tiểu đường hơn vì thường trong gia đình, mọi người có thói quen ăn uống, sinh hoạt khá giống nhau).
 
Người mập phì có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rất cao
Yếu tố xã hội cũng góp phần gây ra bệnh tiểu đường như mập phì, cách ăn uống, lối sống ít hoạt động thể lực... đây là yếu tố mà chúng ta có thể cải thiện được.

5. Biến chứng của tiểu đường là gì?
- Tim mạch: cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.
- Thận: đạm trong nước tiểu, suy thận.
- Mắt: đục thủy tinh thể, mù mắt.
- Thần kinh: dị cảm, tê tay chân.
Biến chứng của bệnh tiểu đường gây mờ mắt.


- Nhiễm trùng: da, đường tiểu, lao phổi, nhiễm trùng bàn chân... và tử vong.
(Biến chứng của bệnh tiểu đường thường xuất hiện ở những nơi có mạch máu nhỏ trước như tim mạch, thận và mắt...)

6. Điều trị tiểu đường như thế nào?

Để điều trị tiểu đường hiệu quả cần có sự đóng góp của nhiều chuyên khoa: bác sĩ nội khoa, nội tiết, chuyên gia về dinh dưỡng.
Điều dưỡng: chăm sóc trong bệnh viện và hướng dẫn việc chăm sóc tại nhà. Nhân viên y tế khác: bác sĩ vật lý trị liệu, chuyên khoa bàn chân, dược sĩ, bảo hiểm xã hội... Sự hợp tác chặt chẽ của bệnh nhân và sự ủng hộ của người thân, gia đình, bạn bè.

 

Người tiểu đường cần quan tâm đặc biệt tới chế độ dinh dưỡng 

Điều trị tiểu đường cần phải có: chế độ dinh dưỡng hợp lý, rèn luyện cơ thể, chương trình huấn luyện bệnh nhân, thuốc giảm đường huyết khi cần thiết (thuốc uống, insulin).

7. Làm gì để phòng tránh bệnh tiểu đường?

1. Phòng tránh thừa cân, béo phì: dựa vào chỉ số BMI (chỉ số khối của cơ thể). BMI =Cân nặng: (Chiều cao x Chiều cao) (trong đó cân nặng tính bằng kg, chiều cao tính bằng mét). Chỉ số này nên giữ trong khoảng 18,5 - 23.  Vòng eo: nam < 90 cm, nữ < 80 cm. Tỷ lệ mỡ cơ thể: nam < 25%, nữ < 30%.
 
Tập thể dục nhẹ nhàng rất tốt để phòng bệnh tiểu đường

2. Gia tăng hoạt động thể lực: chơi thể thao hơn 30 phút trong hầu hết các ngày. Tập thể dục khoảng 1 giờ/ngày trong hầu hết các ngày. Năng động trong mọi hoạt động, bước khoảng từ 5.000 - 10.000 bước chân/ngày.

3.Dinh dưỡng hợp lý:

- Ăn đa dạng: nên ăn trên 20 loại thực phẩm (Trong đó nên có 13 loại rau mỗi ngày với 5 màu sắc khác nhau) mỗi ngày bằng cách ăn các món ăn hỗn hợp, có nhiều món trong một bữa ăn và món ăn nên thay đổi trong ngày, giữa các ngày, theo mùa... Nên hạn chế ăn những thức ăn cung cấp năng lượng rỗng như đường, nước ngọt, kẹo...

 

Ăn đúng cách, đủ các chất dinh dưỡng, đều các bữa để phòng bệnh tiểu đường 

- Ăn chừng mực: không ăn bữa nào quá no hay quá đói, không ăn thứ gì quá nhiều.
Ăn thức ăn nguyên vẹn, gần với thiên nhiên để ít bị mất đi các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn.

8. Những lời khuyên giúp phòng bệnh tiểu đường

* 1. Tập thể dục

Một nghiên cứu ở Phần Lan phát hiện ra rằng những người tập thể dục khoảng 35 phút mỗi ngày có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường ít hơn 80% so với người không tập thể dục. Nguyên nhân là do tập thể dục giúp tăng cường tiêu thụ insulin trong các tế bào và giúp di chuyển đường trong máu vào trong các tế bào.
Theo một nghiên cứu khác cho phụ nữ tập thể dục nhiều hơn một lần một tuần giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường đến 30%.

* 2. Ăn ít carbohydrate

Những người mắc bệnh tiểu đường vốn được chỉ định hạn chế ăn nhiều  carbohydrate. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng lượng carbohydrate cao làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.
Tháp thực phẩm ít carbohydrate
Để ngăn ngừa bệnh tiểu đường phát triển, bạn nên kiểm soát lượng thực phẩm chức carbohydrate một cách hợp lý.

* 3. Hạn chế thức ăn nhanh

Thức ăn nhanh có chứa tinh bột tinh chế, đường, muối và nhiều chất béo.  Trong một nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà khoa học Minnesota (Mỹ), 3.000 người cân nặng bình thường, trong nhóm tuổi từ 18 đến 30 đã được theo dõi chặt chẽ.

 

Hạn chế thức ăn nhanh để phòng bệnh tiểu đường 

Những người ăn thức ăn nhanh nhiều hơn hai lần một tuần đã phát triển gấp đôi tỷ lệ kháng insulin và tăng thêm 4,5kg trọng lượng so với những người ăn thức ăn nhanh ít hơn một lần một tuần. Do đó, thay vì thức ăn nhanh, bạn nên chọn các loại hạt hoặc trái cây cho cơn thèm ăn.

* 4. Ăn nhiều chất xơ

Nên làm phong phú chế độ ăn uống của bạn với các loại thực phẩm chứa nhiều chất xơ. Tránh hoặc giảm thiểu những thức ăn có tinh bột tinh chế.  Lượng chất xơ cao và các sản phẩm ngũ cốc nguyên hạt giúp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2.
Ăn nhiều chất xơ giúp ổn định đường huyết
Rau củ quả là thực phẩm nên có mặt hàng ngày trong thực đơn ăn uống của gia đình bạn.

* 5. Tránh thịt đỏ và thịt chế biến

Thịt đỏ như thịt bò chứa cholesterol khá cao, có thể đặt bạn vào nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao hơn. Do đó, không nên quá lạm dụng thịt đỏ.
Tránh ăn nhiều thị đỏ và thịt chế biến sẵn để phòng bệnh tiểu đường
Một nghiên cứu cho biết phụ nữ ăn thịt đỏ hàng ngày có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao hơn 29% so với phụ nữ ăn ít hơn một lần một tuần. Tương tự như vậy, ăn thực phẩm chế biến như hotdog làm tăng nguy cơ tiểu đường lên 43%.

* 6. Dùng bột quế

Các nhà khoa học tin rằng các hợp chất có trong bột quế có thể kích hoạt các enzyme kích thích hấp thụ insulin. Quế cũng giúp làm giảm cholesterol, triglyceride  và các chất béo hiện diện trong máu, do đó làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.

* 7. Uống cà phê

Uống khoảng 4 đến 5 tách cà phê mỗi tuần thực sự giúp giảm nguy cơ của bệnh tiểu đường đến 29 %. Các nhà nghiên cứu tại Harvard cho biết con số này sau khi nghiên cứu 126.210 phụ nữ uống cà phê.
Các nhà khoa học cho rằng caffeine có thể giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Ngoài ra, cà phê có chứa chất chống oxy hóa , kali và magiê giúp hấp thụ đường của các tế bào.


* 8. Tránh căng thẳng

Stress cũng có thể làm tăng lượng đường trong máu do nó làm tăng nhịp tim và tỷ lệ hô hấp của cơ thể. Vì thế, bạn nên thư giãn suốt cả ngày trong mọi hoạt động mà bạn tham gia. Bạn có thể áp dụng một số kỹ thuật quản lý căng thẳng như yoga hay thiền định để bắt đầu ngày mới. Giữ tinh thần thoải mái, tích cực để phòng bệnh tiểu đường
Hít thở sâu bất cứ khi nào bạn bắt đầu thấy căng thẳng. Khi điều này trở thành thói quen, bạn có thể ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh tiểu đường.

* 9. Không hút thuốc lá.

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch. Vì thế người có nguy cơ mắc đái tháo đường muốn phòng bệnh thì nên bỏ thuốc.
Muốn phòng bệnh tiểu đường tuyệt đối không được hút thuốc

* 10. Nên chú ý tới dấu hiệu bất thường của cơ thể

Nếu đang ở giai đoạn cửa sổ hay tiền đái tháo đường thì người bệnh cần có kế hoạch kiểm soát tốt để không tiến triển thành bệnh. Tiền đái tháo đường là tình trạng đường huyết cao hơn mức bình thường, nhưng chưa đủ để chẩn đoán bệnh (đường huyết lúc đói 5,6-7 mmol/l). Nếu không can thiệp có đến một phần ba bệnh nhân tiền đái tháo đường có thể tiến triển thành bệnh.

Người có các biểu hiện như: thường xuyên khát, uống nước liên tục, đi tiểu thường xuyên, nhanh đói dù ăn nhiều, sụt cân, người mệt mỏi, thị lực giảm, đau bụng… thì cần nghĩ đến bệnh tiểu đường, nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Tất cả những người trên 45 tuổi, người trẻ có tiền sử gia đình về bệnh tiểu đường cần kiểm tra lượng đường trong máu mỗi 2 năm 1 lần. Bằng cách này, bạn có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa tích cực nếu có nguy cơ mắc các loại tiền tiểu đường.

9. Ăn gì để phòng bệnh tiểu đường

Nên giảm ăn thịt, tăng cường ăn cá, tuần 2-3 lần; thịt thì nên chọn loại không có mỡ, thịt gia cầm thì loại bỏ da vì trong da có nhiều cholesterol... là một số lưu ý để giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
 
Ăn uống lành mạnh để phòng bệnh tiểu đường
Trong đó, bữa ăn cần cân đối 4 nhóm thực phẩm (đạm, đường, tinh bột, vitamin và khoáng chất); phối hợp nhiều loại thực phẩm.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia: nên duy trì bữa ăn truyền thống của người Việt gồm: cơm, rau và cá, không ăn nhiều thịt, không nhiều béo. Trong bữa ăn cũng nên ăn nhiều loại rau gia vị giàu vitamin, khoáng chất và các yếu tố chống ôxy hóa.
 
Cụ thể:
- Ăn nhiều rau, quả (Đảm bảo ăn ít nhất 400 g mỗi người mỗi ngày) hoặc sử dụng thường xuyên các loại hạt họ đậu, vừng, lạc. Ăn ít hoa quả có độ đường cao.
- Nên tăng cường ăn thực phẩm tươi và các món luộc.
- Chú ý không ăn thừa muối, không nên ăn quá 5 g/người/ngày. Hạn chế cho muối và gia vị chứa nhiều muối vào thực phẩm khi nấu ăn, hạn chế chấm thức ăn vào muối và gia vị chứa nhiều muối.

 

Tháp dinh dưỡng cho người tiểu đường 

- Chọn gạo lứt, gạo lật nảy mầm hoặc gạo xát rối, bánh mì đen.
- Nên giảm bớt ăn thịt, tăng cường ăn cá, tuần 2-3 lần. Thịt thì nên chọn loại không có mỡ, thịt gia cầm thì nên loại bỏ da vì trong da có nhiều cholesterol.
- Chọn sữa gầy (sữa tách béo), sữa đậu nành, đậu tương hoặc các loại phô mai ít béo.
- Uống nước chè, nụ vối…, không nên uống các loại nước ngọt.
- Dùng dầu thực vật để chế biến.
- Không ăn quá nhiều các thức ăn có năng lượng cao, hạn chế sử dụng thức ăn có hàm lượng đường nhiều (bánh, kẹo, mứt...).

Chúc các bạn luôn có sức khỏe tốt và tràn đầy niềm tin trong cuộc sống!

Khỏe Mới Vui - Phòng Bệnh Tiểu Đường

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

Thịt nạc, hải sản, cá béo, cà chua, ngũ cốc giàu chất xơ, rau củ nhiều màu sắc… đều rất hữu ích với những người đàn ông muốn giữ gìn sức khỏe, tránh xa các bệnh như ung thư tuyến tiền liệt, tim mạch, huyết áp cao…
(Hãy bấm vào hình để xem ảnh to và rõ hơn)
http://khoemoivui.com/20-nhom-thuc-pham-tot-nhat-cho-nam-gioi/ 
20 thực phẩm tốt cho sức khỏe nam giới
Theo Khoemoivui.com
Có những việc rất đơn giản và quen thuộc nhưng không biết để phòng tránh thì thật nguy hiểm đối với sức khỏe. Các bạn nam giới chú ý nhé.
 (Hãy bấm vào hình để xem ảnh to và rõ hơn)
http://khoemoivui.com/6-dieu-nam-gioi-nen-tranh/
 6 điều nam giới cần chú ý để có sức khỏe sinh sản tốt hơn
Theo Khoemoivui.com

Học viện Hạnh Phúc Mỗi Ngày

Học viện Hạnh Phúc Mỗi Ngày
Đăng ký để học Miễn Phí những khóa học giúp bạn Hạnh Phúc hơn

Bí quyết LẮNG NGHE để HẠNH PHÚC, BÌNH AN

Bí quyết LẮNG NGHE để HẠNH PHÚC, BÌNH AN
ĐÔI TAI KIM CƯƠNG - Thấu hiểu, sâu sắc, tâm đầu ý hợp

Bài viết phổ biến

Nuôi Dạy Con Kiệt Xuất

Làm Mẹ Không Stress

Làm Mẹ Không Stress
Mẹ Bình An, Con Hạnh Phúc